Bệnh viêm ruột thừa - đau ruột thừa

Viêm ruột thừa là tình trạng đặc trưng bởi hiện tượng viêm của ruột thừa. Mặc dù các ca nhẹ tự khỏi mà không cần điều trị, phần lớn viêm ruột thừa cần được phẫu thuật mở ổ bụng để lấy bỏ ruột thừa bị viêm. Tỉ lệ tử vong cao nếu không điều trị, chủ yếu do ruột thừa viêm bị vỡ gây viêm phúc mạc và sốc.

Nguyên nhân

Bệnh viêm ruột thừa thường xảy ra đối với các độ tuổi thanh thiếu niên và trẻ nhỏ từ 10 đến 30 tuổi, thậm chí có khi bệnh còn xảy ra với các bé từ 3 đến 4 tuổi và bệnh không lây lan, không bị theo di truyền. Nguyên nhân của bệnh thường không rõ ràng và thường chỉ có một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bị hiện tượng đau ruột thừa như sau:

  • - Lòng ruột thừa bị tắc nghẽn
  • - Bị nhiễm trùng ruột thừa
  • - Tắc nghẽn mạch máu ở ruột thừa.

Nếu không điều trị, ruột thừa có thể bị hoại tử, vỡ ra, dẫn đến viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết và cuối cùng là tử vong.

Dấu hiệu và triệu chứng

Kiểu đau của viêm ruột thừa thường bắt đầu ở vùng quanh rốn trước khi khu trú ở hố chậu phải, trong lâm sàng gọi là hiên tượng đau chuyển. Thường đi kèm với chán ăn. Cũng thường có sốt, Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống, Buồn nôn, nôn và tiêu chảy có thể có hoặc không, nhưng nếu có sẽ làm tăng khả năng chẩn đoán.

Triệu chứng điển hình là đau và nhạy cảm ở hố chậu phải. Nếu phản ứng dội dương tính chứng tỏ có kích thích phúc mạc. Ổ bụng gồng cứng là dấu hiệu nghi ngờ cao cho viêm phúc mạc cần can thiệp phẫu thuật.

viêm ruột thừa đau ruột thừa 2

Chẩn đoán

Chẩn đoán dựa trên bệnh sử và khám thực thể, cùng với thử máu và các xét nghiệm chẩn đoán khác.

Dấu hiệu thực thể điển hình của viêm ruột thừa là đau lan toả ở vùng rốn, và trở nên khu trú tại điểm McBurney nếu ruột thừa viêm tiếp xúc với phúc mạc thành. Điểm này nằm tại điểm 1/3 ngoài của đường nối gai chậu trước trên và rốn, hoặc khoảng bề rộng của bàn tay. Trường hợp bất thường về giải phẫu có thể không đau tại vị trí này.

McBurney.JPG
Hình ảnh minh họa viêm ruột thừa, đau ruột thừa

Xét nghiêm huyết học của bệnh nhân viêm ruột thừa có ba bất thường, gồm có bạch cầu >11000g/l, Neutrophil >80%, CRP(C reactive protein- một loại glycopritein do gan sản xuất khi bị viêm) gấp 4-6 lần bình thường.

Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, hình ảnh siêu âm có thể giúp phân biệt viêm ruột thừa với bệnh cảnh khác có triệu chứng rất giống, được gọi là viêm hạch bạch huyết quanh ruột thừa. Ở những nơi có trang bị CT scan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa thích. Phim chụp cắt lớp CT scan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%. Ruột thừa viêm biểu hiện trên CT scan là hiện tượng mất tương phản (thuốc nhuộm đường uống) trong ruột thừa và dấu hiệu trương nở hay phù nề của ruột thừa, thường trên 6 mm ở mặt cắt ngang; ngoài ra còn có bằng chứng viêm được gọi là "xe sợi mỡ" ("fat stranding"). Siêu âm cũng đặc biệt có ích trong thăm dò nguyên nhân phụ khoa gây đau bụng ở một phần tư phải dưới ở phụ nữ mang thai vì CT scan không là phương pháp được lưa chọn trong trường hợp này.

Nếu các triệu chứng và cân lâm sàng chưa rõ, không cho bệnh nhân ăn và theo dõi thêm để chẩn đoán được chính xác.

Các phương pháp khác gồm thăm trực tràng bằng ngón tay (hay khám trực tràng qua đường hậu môn) - nếu đau ở phía phải (vị trí bình thường của ruột thừa), nó làm tăng khả năng chẩn đoán viêm ruột thừa.

Các dấu hiệu khác dùng trong chẩn đoán viêm ruột thừa là dấu cơ thắt lưng-chậu (thường ở viêm ruột thừa sau manh tràng), dấu lỗ bịt (trong), dấu Blomberg và dấu Rovsing.

Cũng cần phân biệt với các bệnh lý khác như bệnh lý phụ khoa với bệnh nhân nữ, sỏi niệu quản....

Tại sao gọi ruột thừa?

Ruột thừa là một đoạn ruột nhỏ, dạng túi cùng, hẹp và dài vài centimet dính vào manh tràng. Ruột thừa nằm ở phần bụng dưới bên phải, nơi nối tiếp giữa ruột non và ruột già. Chức năng ruột thừa trong cơ thể chưa được xác định.

Viêm ruột thừa là gì?

Viêm ruột thừa là tình trạng ruột thừa bị viêm nhiễm. Sự tắc nghẽn trong lòng ruột thừa có thể là nguyên nhân viêm ruột thừa. Vi khuẩn nhân lên nhanh chóng, khiến phần ruột thừa bị viêm, sưng và hóa mủ. Nếu không được chữa trị kịp thời, ruột thừa có thể vỡ.

Viêm ruột thừa là bệnh lý cấp cứu bụng phổ biến. Cứ trong 15 người thì có 1 người bị viêm ruột thừa trong suốt cuộc đời mình.

viem-ruot-thua-dau-ruot-thua
Nguyên nhân đau ruột thừa - viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa có triệu chứng gì?

Triệu chứng đặc trưng của viêm ruột thừa là cơn đau bắt đầu xung quanh hoặc phía trên rốn. Cơn đau có thể nặng hoặc chỉ là cảm giác đau nhẹ và khó chịu, sau đó di chuyển đến khu trú vùng góc dưới bụng bên phải. Ở đó, đau trở lên liên tục và đau tăng lên, thường khi có cử động, ho, … Bụng thường trở nên cứng và đau khi sờ nắn, thăm khám.

Chán ăn là triệu chứng rất thường gặp. Buồn nôn và nôn có thể gặp ở một nửa số trường hợp và thường có thể có táo bón hoặc tiêu chảy. Thân nhiệt có thể bình thường hoặc sốt nhẹ. Sốt cao có thể là dấu hiệu cho thấy ruột thừa đã muộn hoặc bị vỡ.

Chuỗi các triệu chứng điển hình xuất hiện trong khoảng 50% các trường hợp bị viêm ruột thừa. Một nửa số trường hợp còn lại có thể thấy các dấu hiệu ít điển hình hơn, đặc biệt là ở phụ nữ mang thai, bệnh nhân cao tuổi hoặc ở trẻ nhũ nhi. Đối với phụ nữ có thai, triệu chứng viêm ruột thừa có thể bị che lấp bởi các biểu hiện như đau bụng nhẹ hoặc buồn nôn do nguyên nhân khác. Những bệnh nhân cao tuổi có thể cảm thấy ít đau bụng và ít đau khi thăm khám hơn hầu hết các bệnh nhân khác, vì vậy việc chẩn đoán và điều trị dễ bị chậm, dẫn đến vỡ ruột thừa ở 30% các trường hợp. Trẻ nhũ nhi và trẻ em nhỏ thường hay bị tiêu chảy, nôn mửa và sốt đồng thời với đau bụng, dễ bị nhầm lẫn chẩn đoán hoặc bỏ sót.

Viêm ruột thừa được chẩn đoán như thế nào?

Để chẩn đoán bệnh viêm ruột thừa, bác sĩ sẽ hỏi bệnh nhân về quá trình xuất hiện và diễn tiến của các triệu chứng và thăm khám vùng bụng của bệnh nhân.

Các xét nghiệm và các thủ thuật được áp dụng để chẩn đoán viêm ruột thừa gồm:

  • - Thăm khám lâm sàng để đánh giá tình trạng đau: Bác sĩ có thể ấn nhẹ vào vùng bụng bị đau. Nếu là đau ruột thừa, cơn đau sẽ nặng hơn khi bác sĩ bất ngờ bỏ tay ra, đây là dấu hiệu cho thấy vùng phúc mạc lân cận bị viêm. Bác sĩ có thể thấy tình trạng gồng cứng bụng và khuynh hướng co cơ bụng để phản ứng lại áp lực lên vùng bụng bị viêm.
  • - Bác sĩ có thể khám trực tràng khi cần thiết. Phụ nữ trong độ tuổi sinh nở có thể được chỉ định thăm khám vùng tiểu khung để kiểm tra các bệnh phụ khoa có thể là nguyên nhân gây đau.
  • - Xét nghiệm máu: Xét nghiệm cho phép bác sĩ kiểm tra số lượng bạch cầu và CRP, có thể cho thấy dấu hiệu nhiễm trùng.
  • - Xét nghiệm nước tiểu: Bác sĩ có thể chỉ định làm xét nghiệm nước tiểu để kiểm tra nhiễm trùng đường niệu hoặc sỏi thận, có thể là nguyên nhân gây đau.
  • - Chẩn đoán hình ảnh: bác sĩ cũng có thể sẽ chị định chụp phim x-quang vùng bụng, siêu âm hoặc chụp cắt lớp vùng bụng để xác nhận tình trạng viêm ruột thừa hoặc tìm nguyên nhân gây đau khác.

Viêm ruột thừa có biến chứng gì?

Viêm ruột thừa có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng như:

  • - Vỡ ruột thừa: làm nhiễm trùng lan khắp vùng bụng (viêm phúc mạc). Do có thể nguy hiểm tính mạng nên bệnh nhân có tình trạng vỡ ruột thừa cần phải phẫu thuật cấp cứu để cắt bỏ ruột thừa và làm sạch khoang bụng.
  • - Hình thành ổ mủ trong khoang bụng: Nếu ruột thừa vỡ, có thể sẽ hình thành ổ nhiễm trùng (áp xe). Với hầu hết các trường hợp, bác sĩ phẫu thuật sẽ dẫn lưu mủ ra ngoài bằng cách đặt một ống xông qua thành bụng vào đến ổ áp xe. Ống xông dẫn lưu này được để tại chỗ và bệnh nhân sẽ dùng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng. Khi nhiễm trùng đã được điều trị khỏi, bệnh nhân sẽ được phẫu thuật để cắt bỏ ruột thừa sau. Trong một số trường hợp, áp xe được dẫn lưu ra ngoài và ruột thừa được cắt bỏ ngay cùng lúc.

Phương pháp điều trị viêm ruột thừa là gì?

Viêm ruột thừa thường được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm. Trước khi phẫu thuật, bệnh nhân có thể được điều trị bằng kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng.

Phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa

Phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa có thể là cuộc phẫu thuật hở được thực hiện bằng cách rạch da vùng bụng dài từ 5 đến 10 centimet (phẫu thuật mở bụng). Hoặc phẫu thuật thông qua một vài lỗ nhỏ ở thành bụng (phẫu thuật nội soi bụng). Trong quá trình phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa, bác sĩ phẫu thuật đưa vào ổ bụng của bênh nhân một camera video hình ảnh và những thiết bị chuyên dùng để cắt bỏ ruột thừa.

Thông thường, phẫu thuật nội soi sẽ giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn, vết thương ít đau và ít để lại sẹo. Phương pháp này có thể tốt hơn cho bệnh nhân cao tuổi hoặc béo phì. Tuy nhiên phẫu thuật nội soi không phải thích hợp cho tất cả mọi người. Một số trường hợp đặc biệt với ruột thừa bị vỡ và nhiễm trùng đã lan ra ngoài ruột thừa hoặc đã có áp xe, bệnh nhân có thể cần được phẫu thuật mở bụng để cắt bỏ ruột thừa và làm sạch khoang bụng.

- Bệnh nhân sẽ nằm viện hai hoặc ba ngày sau khi được phẫu thuật cắt ruột thừa.

- Dẫn lưu áp xe trước khi phẫu thuật

- Nếu ruột thừa bị vỡ và áp xe đã hình thành quanh ruột thừa, ống dẫn lưu sẽ được đặt thông qua thành bụng đến ổ áp xe để dẫn mủ ra ngoài.

- Phẫu thuật cắt ruột thừa có thể được thực hiện sau, khi đã kiểm soát ổn định nhiễm trùng.

nguyen-nhan-gay-viem-ruot-thua
Phẫu thuật đau ruột thừa

Điều trị không phẫu thuật

Nếu bệnh nhân chỉ có một vài triệu chứng viêm ruột thừa và bác sĩ phẫu thuật xét thấy bệnh nhân không cần phẫu thuật ngay lập tức và có thể được điều trị bằng kháng sinh để theo dõi sự cải thiện. Trong trường hợp viêm ruột thừa không phức tạp, điều trị bằng thuốc kháng sinh có thể có hiệu quả nhưng bệnh lại có khả năng tái phát.

Những biến chứng của phẫu thuật cắt ruột thừa

Nhiễm trùng xảy ra ở 2-4% các trường hợp phẫu thuật cắt ruột thừa, có thể là nhiễm trùng vết mổ hoặc hình thành áp xe trong ổ bụng (mủ tích tụ tại ruột thừa)

Những biến chứng khác có thể xảy ra như tình trạng tạo cục máu đông, vấn đề tim mạch, khó thở; tình trạng này thấy rõ hơn ở những người hút thuốc, béo phì hoặc những người có các bệnh khác như đái tháo đường (tiểu đường), suy tim, suy thận hoặc bệnh phổi dễ gặp hơn. Vết thương cũng có thể hồi phục kém hơn ở những người hút thuốc.

Bệnh nhân mong đợi gì sau khi phẫu thuật?

Sau phẫu thuật, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng sinh và thuốc giảm đau cho bệnh nhân nếu cần.

Thông thường, bệnh nhân có thể nằm viện từ 1 đến 3 ngày sau phẫu thuật nội soi, và nằm viện lâu hơn nếu bệnh nhân phẫu thuật mở bụng hoặc nếu ruột thừa của bệnh nhân đã bị vỡ

Trong tuần đầu tiên sau phẫu thuật, bệnh nhân nên vận động nhẹ và không được bưng bê vật nặng hoặc tham gia vào hoạt động gắng sức. Trong trường hợp ruột thừa chưa bị vỡ, trẻ em có thể đi học lại trong vòng 1 tuần sau phẫu thuật và nếu trường hợp ruột thừa đã bị vỡ, trẻ em có thể đi học lại sau 2 tuần. Hầu hết các trẻ em có thể tiếp tục tiếp tục hoạt động thể thao 2 tuần sau phẫu thuật

Lưu ý: *Những thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Để biết thêm thông tin chi tiết và chính xác, vui lòng liên hệ 02203.553.115 hoặc 0983.947.350 để được tư vấn cụ thể.